Chào mừng các bạn đến với Blog Thủ thuật máy tính của trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Quận 12
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hệ thống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hệ thống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Cách khắc phục lỗi không vào được windows sau khi xóa ubuntu

Vì một lý do nào đó, ubuntu của bạn bị lỗi hay bạn vô tình xóa phân vùng ubuntu, việc này sẽ dẫn đến việc không thể khởi động vào các hệ điều hành khác(bao gồm cả windows), đó là do khi cài đặt thì grub đã quả lý boot trên tất cả các phân vùng, sau khi xóa phân vùng ubuntu thì bạn đã xóa grub nên không thể khởi động vào windows.
Để khắc phục, bạn làm theo các bước mình hướng dẫn sau:
1.) Đầu tiên, bạn tạo một usb boot cài đặt windows, bạn có thể dùng phần mềm rufus, mục đích là chúng ta sẽ dùng usb boot này để sửa lại mbr để nhận boot trên win.
2.) Bạn khởi động vào usb, màn hình cài đặt như dưới sẽ hiện ra, bạn nhấn Next
install image
Màn hình tiếp theo, bạn chọn Troubleshoot
troubleshoot problem
Màn hình tiếp theo bạn chọn advanced options sau đó chọn Command Prompt
Choose command prompt
Cửa sổ command prompt sẽ hiện ra, bạn lần lượt thực thi các lệnh sau:
bootrec.exe /FixMbr
bootrec.exe /FixBoot
exit

fix 1
và khởi động lại máy tính.
Nếu sau khi khởi động lại máy tính đã vào được win thì ok, nêu chưa vào được thì bạn chuyển sang bước 3
3.) Quay lại bước 1 và 2 đến đoạn hiện cửa sổ command prompt thì thực hiện các lệnh sau:
DISKPART
Lệnh trên khởi chạy phần mềm diskpart dùng để quản lý đĩa cứng trên windows.
Tiếp theo bạn thực thi lệnh
LIST DISK
Lệnh này sẽ liệt kê tất cả các đĩa cứng có trong máy bạn, tiếp theo chúng ta chọn đến phân vùng cài đặt windows(partition C) bằng cách thực hiện lần lượt các lệnh sau
SELECT DISK 0
LIST PARTITION
Ở đây partition C:\ của mình có dung lượng 161GB nên mình sẽ thực hiện lệnh
SELECT PARTITION 2
Sau khi chọn đúng phân vùng như trên thì chúng ta thực hiện lệnh sau để active
ACTIVE
Cuối cùng nhập lệnh “exit” để thoát và khởi động lại là bạn đã có thể vào được windows.
Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Hướng dẫn fix lỗi 0xc000000e Windows Failed to Start không dùng đĩa install windows 7


Hôm nay mình xin hướng dẫn các bạn fix lỗi 0xc000000e Windows Failed to Start: The boot selection failed because a required device is inaccessible
Các bạn để ý nhá 0xc000000e chứ ko phải 0xc000000f nhé
Mình thử theo cách của lỗi 0xc000000f với 0xc000000e nhưng không được, chỉ có dùng đĩa boot là được thôi.
Cách làm cụ thể như sau:
Bạn dùng 1 usb hay đĩa Hiren's Boot, boot vào mini windows
Sau đó mở phần mềm BootICE, phần mềm này không thể thiếu với đĩa cứu hộ Hiren's boot.
Bạn chọn tab BCD Edit nhá, phía dưới chọn other BCD file
Tiếp theo click vào dấu ... và dịch chuyển đến C:\Boot và chọn BCD, nếu không thấy folder đó thì bạn vui lòng mở file ẩn ra mới thấy được.
Rồi, bây giờ chọn View/Edit
Sửa file như sau:
TẠI DÒNG CHỨA TÊN HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS 7 CỦA BẠN ( tùy người đặt nó khác nhau), bạn click vào đó
, bên kia, chỗ Boot Disk thì bạn chọn là ổ cứng hiện tại của bạn, chỗ Partition thì chọn là ổ C
Xong, bấm Save và bạn đã có thể reboot và tận hưởng.
Source: http://blog.soulvape.vn/2015/09/huong-dan-fix-loi-0xc000000e-windows.html
Đọc tiếp ...

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Hướng dẫn sử dụng Bootice tạo USB BOOT, Nạp MBR, PBR, quản lý phân vùng


BOOTICE là phần mềm tạo Boot cho thiết bị lưu trữ (ổ đĩa cứng, usb flash), quản lí phân vùng (format, active, hide) có khả năng chia usb ra 2 phân vùng khá hay, và cuối cùng là quản lí menu boot cho Windows 7 với file BCD . Đối với dân IT và các vọc sĩ thì phần mềm BOOTICE đã quá quen thuộc, không xa lạ gì. Với dung lượng cực nhỏ, chưa đến 1MB nhưng công dụng của nó lại rất lớn. Đối với việc quản lý phân vùng, thao tác với USB, và nhất là đối với việc tạo USB BOOT thì có lẽ không thể không nhắc tới BOOTICE. Với phần mềm này Bạn có thể nạp MBR(Master Boot Record) nạp PBR(Partition Boot Record) cho ổ đĩa, đối với những Bạn có thói quen dùng song song 2 hệ điều hành để tận dụng hết khả năng và lợi thế riêng của từngOSthì với BOOTICE mọi thao tác trở nên quá dễ dàng và hiệu quả mang lại cực kì lớn.


----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hướng dẫn sử dụng BOOTICE

1. Tạo khả năng boot cho thiết bị

Một thiết bị lưu trữ bao giờ cũng gồm có MBR (Master Boot Record – Bản ghi khởi động chủ – quản lí việc khởi động của chính thiết bị đó) và PBR (Partition Boot Record – Bản ghi khởi động phân vùng – quản lí việc khởi động của riêng phân vùng). Như vậy để một thiết bị có thể khởi động trôi chảy, MBR và PBR phải được “nạp” đúng. MBR và PBR thông thường ít được biết đến nhưng lại được rất nhiều công cụ âm thầm sử dụng (nhất là các công cụ quản lý phân vùng, tạo boot hay thậm chí là các đĩa cài đặt Windows).


Đầu tiên chọn thiết bị lưu trữ cần “xử” ở mục Destination Disk, chọn Process MBR để nạp MBR


Có 3 loại MBR cần quan tâm là
+ Grub4dos: chuẩn boot mã nguồn mở, rất phổ biến mà dân mình hiện nay dùng để USB boot cứu hộ kiểu Hiren thay cho các loại đĩa CD, DVD.
+ Windows NT5x: là dòng Windows 2000, Windows XP.
+ Windows NT6x : là Windows Vista, Windows 7, 8.
Sau khi chọn hàng, bấm Install/Config rồi Save là OK.
- – - – - – - – - – - - – - – - – - – - – - - – - – - – - – - – - -
Tiếp đó là nạp PBR


Cũng vẫn thế chỉ có 3 kiểu PBR thông dụng :
+ Grub4dos : PBR kiểu này sẽ tìm và gọi file GRLDR trong phân vùng khởi động, kế đến là load menu.lst, các bạn chơi USB boot rành cái này quá rồi nhỉ.
+ NTLDR : cơ chế của riêng Windows XP, tìm file NTLDR để khởi động, đây là cách để sử lỗi "NTLDR is missing" hay gặp.
+ BOOTMGR : của Windows Vista/7/8, tìm file bootmgr, để khởi động, nếu bạn đang dùng windows XP, muốn cài hay ghost windows 7,8 thì bạn cần nạp PBR là BOOTMGR mới vào được win nhé!

2. Quản lí phân vùng

Mở BootICE, Chọn Ổ đĩa sau đó chọn Part Manager, Cửa sổ Partition Management.


Tại đây bạn có thể thực hiện được 1 số công việc với phân vùng ổ cứng. Có khá nhiều chức năng nhỏ nhwung quan trọng và hay dùng nhất là chức năng Active:
- Active: Phân vùng nào được active thì windows sẽ boot vào phân vùng đó, 1 số bạn ghost xong không vào được win, có thể do ổ mất active, bạn chỉ cần active lại là vào win bình thường.
Đối với máy tính nhiều hệ điều hành, có nhiều phân vùng Primary, MBR sẽ chỉ đọc đến PBR của phân vùng được Active, PBR các phân vùng còn lại không cần quan tâm. Như vậy bạn muốn khởi động phân vùng nào thì phải Active + nạp PBR cho nó, không được thiếu bước nào.
Các chức năng khác bạn cso thể tìm hiểu thêm như: Hide, Unhide (Ẩn, hiện phân vùng), Change ID, Assign, Remove Driver Letter: Format....

3. Quản lí menu boot, tạo Dualboot (1 máy nhiều hệ điều hành)

Để quan lý menuboot bạn chọn View/Edit


Tại đây bạn có thể Thêm, sửa xóa 1 menuboot, Tạo dualboot (1 máy chơi 3 4 win )...
Hướng dẫn cụ thể đã được khatmau_sr chụp và chú thích trên ảnh rồi nhé!

Ảnh kĩ hơn về mục Add menuboot


Ví dụ bạn đang dùng Windows XP ở Partition C, muốn tạo boot Windows 7 ở ổ D nữa thì bạn ghost file ghost windows 7 vào ổ D sau đó dùng BootICE add Windows Vista,7,8 boot entry, chọn Partition D sau đó save là máy tính của bạn đã có song song 2 windows XP và 7 rồi đó.
Bằng cách này bạn có thể tạo thêm nhiều menuboot cho windows tùy ý.



Edit xong mỗi mục bấm Save current system. Edit xong toàn bộ bấm Save Global setting -> Thoát

Mọi thắc mắc bạn cso thể post tại topic sẽ được giải đáp!

tác giả:khatmau+internet


Nguồn bài viết: http://thegioitinhoc.vn/kinh-nghiem-xai-may-tinh/197969-huong-dan-su-dung-bootice-tao-usb-boot-nap-mbr-pbr-quan-ly-phan-vung.html#ixzz4M5RkCwhQ
Đọc tiếp ...

Chuyển đổi MBR sang GPT trên ổ cứng không mất dữ liệu với Aomei Partition Assistant

Việc chuyển đổi từ MBR sang GPT trên ổ cứng có rất nhiều lợi thế chẳng hạn như chúng ta có thể tạo được nhiều phân vùng hơn, GPT hỗ trợ ổ cứng có dung lượng cao hơn, ... Bài viết dưới đây Taimienphi.vn sẽ hướng dẫn các bạn cách chuyển đổi MBR sang GPT trên ổ cứng mà không làm mất dữ liệu.
Nếu bạn đang dùng hệ điều hành Windows không ít lần bạn đặt ra câu hỏi làm như thế nào để chuyển đổi MBR sang GPT mà không làm mất dữ liệu, bởi kể cả sử dụng chức năng Disk Manager cũng không thể giữ lại dữ lại khi thực hiện chuyển đổi MBR sang GPT. Và Aomei Partition Assistant Standard Edition sẽ là giải pháp dành cho bạn lúc này.

Chuyển đổi MBR sang GPT có lợi ích gì?
- Đĩa cứng GPT có nhiều ưu điểm vượt trội hơn so với MBR.
- Đĩa cứng GPT hỗ trợ lên đến 256TB, trong khi đó MBR chỉ hỗ trợ tối đa là 2TB.
- GPT hỗ trợ lên đến 128 phân vùng Primary, MBR chỉ cho phép tạo 3,4 phân vùng Primary và 1 phân vùng Extended.
HƯỚNG DẪN CHUYỂN ĐỔI MBR SANG GPT TRÊN Ổ CỨNG KHÔNG MẤT DỮ LIỆU
 Chú ý
- Định dạng GPT không tương thích với một số phiên bản Windows như: Windows XP/2000.
- Các máy tính cài hệ điều hành 32bit thì không nên chuyển đổi sang GPT vì theo thông tin từ MicroSoft thì hệ điều hành 32bit không hỗ trợ GPT mà chỉ có MBR. Để kiểm tra xem máy tính là 32bit hay 64 bit, các bạn tham khảo bài viết
Bước 1: Tải và cài đặt Aomei Partition Assistant Standard Edition trên máy tính. Bạn có thể tải phiên bản mới nhất của phần mềm tại đây:  Download Aomei Partition Assistant Standard Edition.
- Giao diện chương trình sau khi cài đặt.

Bước 2Tại giao diện chương trình, bạn chọn ổ đĩa có dữ liệu muốn chuyển đổi qua định dạng GPT sau đó chuột phải vào và chọnConvert to GPT disk

Bước 3: Một hộp thoại xuất hiện yêu cầu bạn xác nhận việc chuyển đổi nhấn chuột và chọn OK



Bước 4Tiếp theo trên thanh menu ngang bạn chọn Apply để bắt đầu quá trình chuyển đổi


Bước 5: Sau khi thành công bạn có thể phải chuột vào ổ đĩa để kiểm tra nếu không hiện ra nút Convert to GPT Disk thì bạn đã chuyển đổi thành công

Trong giới hạn bài viết trên chúng tôi đã hướng dẫn các bạn cách chuyển đổi MBR sang GPT trên ổ cứng mà không mất dữ liệu với các thao tác dễ dàng, chuyển đổi an toàn từ MBR sang GPT bạn có thể yên tâm và sử dụng.
http://thuthuat.taimienphi.vn/chuyen-doi-mbr-sang-gpt-tren-o-cung-khong-mat-du-lieu-1802n.aspx 
Aomei Partition Assistant Standard Edition  là một trong những sản phẩm khá hay và nổi trội của nhà phát hành Aomei Technology, bên cạnh đó nhà phát hành này còn có những sản phẩm mà người dùng yêu thích và sử dụng nhiều như AOMEI Partition Assistant và AOMEI Backupper. Bạn có thể trải nghiệm bằng cách Download AOMEI Partition Assistant và Download AOMEI Backupper tại website này.
Hoàng Bách(http://thuthuat.taimienphi.vn/chuyen-doi-mbr-sang-gpt-tren-o-cung-khong-mat-du-lieu-1802n.aspx)
Đọc tiếp ...

GPT disk vs MBR disk !

Giới thiệu :
Hệ điều hành Microsoft Windows cung cấp 2 kiến ​​trúc phân vùng ổ đĩa sử dụng để lưu trữ dữ liệu. Hai phương pháp này với 2 cách tiếp cận khác nhau đều hướng tới quản lý các thành phần của đĩa vật lý. Phương thức gốc của phân vùng đĩa được biết đến đầu tiên là MBR (Master Boot Record) được phát triển từ những năm 1980. Mặc dù được sử dụng rộng rãi cho đến nay, nhưng nó bị hạn chế chỉ bao gồm các phân vùng được giới hạn đến 2TB (terabyte).
Khi CNTT ngày càng phát triển, dung lượng ổ cứng đã tăng lên hơn 1TB (terabyte), thì một kiến ​​trúc phân vùng mới phát triển vào cuối những năm 1990, gọi là GPT (GUID Partition Table) được tạo ra để thích ứng với kích thước phân vùng lớn hơn. Ngoài ra, GPT Disk cũng cung cấp nhiều phân vùng và khả năng phục hồi dữ liệu lớn hơn. Ở đây chúng ta xem xét so sánh những lợi ích & bất lợi của MBR và GPT-based:
GPT-based Disks :
Microsoft đã thông qua đề án sử dụng kiến trúc GPT Disk trong những năm 2001 từ EFI (Extensible Firmware Interface) của Intel. Nó hổ trợ kích thước phân vùng đĩa lên đến 18 EB (Exabyte) hay 1 triệu TB. Mỗi phân vùng GUID (globally unique ID) bao gồm một trường 36 ký tự, được gán liên kết với mỗi phân vùng.
Một hạn chế của MBR Disk là giới hạn ở 3 phân vùng Primary và 1 phân vùng Extended. Phân vùng Extended có thể được chia thành nhiều phân vùng Logical. Vì do bị giới hạn số lượng các phân vùng trên đĩa, nên hạn chế số lượng các phân vùng để tổ chức hoặc quản lý dữ liệu.
Với GPT Disk, Microsoft hỗ trợ lên đến 128 phân vùng trên mỗi đĩa. Trong đó một số phân vùng dành riêng cho Dynamic Disk và hỗ trợ EFI-boot, vì thế chỉ còn lại 124 phân vùng dành cho dữ liệu.
MBR Disk Layout :
Sơ đồ dưới đây từ Microsoft TechNet Library cung cấp là một ví dụ điển hình về MBR Disk

Hình 1: MBR Disk Layout
Có lẽ một trong những thiếu sót lớn nhất của MBR Disk là hạn chế việc sử dụng Partition Table. MBR disks chỉ có 1 Partition Table để theo dõi tất cả các khối trong phân vùng đó. Nếu Partition Table này bị lỗi, toàn bộ đĩa phải được phục hồi từ bản sao lưu. Đối với Windows, GPT-based Disk sẽ có nhiều Partition Table hơn, vì thế nếu 1 Partition Table bị lỗi, nó có thể tự phục hồi trở lại từ một bản sao dự phòng của Partition Table khác.
Để có khả năng tương thích lẫn nhau, các Master Boot Record được lưu giữ tại LBA 0 trong ổ GPT-based Disk, và GPT Header bắt đầu từ LBA 1. Các kiểu phân vùng của ổ GPT được đánh dấu là 0xEE. Chúng ta có thể hoàn toàn chuyển đổi từ MBR Disk sang GPT-based Disk và ngược lại, nhưng trước tiên cần phải backup dữ liệu vì tất cả các phân vùng sẽ bị xóa trong quá trình chuyển đổi.
GPT-based Disk Layout :
Sơ đồ dưới đây từ Microsoft TechNet Library cung cấp là một ví dụ về GPT-based Disk

Hình 2: GPT-based Disk Layout




Tóm tắt :
Mặc dù GPT-based Disk có nhiều điểm nổi trội hơn so với MBR Disk, nhưng hiện tại nhiều nhà sản xuất vẫn sử dụng công nghệ MBR vì nó vẫn được sử dụng phổ biến với nhu cầu hiện nay. Theo xu thế phát triển CNTT thì GPT Disk cũng đang được phổ biến với lợi ích nhiều hơn về kích thước phân vùng, số lượng các phân vùng, và khả năng phục hồi dữ liệu cao hơn so với MBR.
Những lợi thế của ổ GPT-based Disk đã làm cho nó có một sức hấp dẫn thay thế MBR Disk trong tương lai.
- Xem bài viết liên quan trên Failover Cluster Setup; để giải thích việc lớn hơn không phải lúc nào cũng tốt hơn.

- Xem các bài báo tương lai về công nghệ lưu trữ Windows như "Disk Fragmentation and Why You Should be Concerned". Bài viết này sẽ giới thiệu cách các tập tin được đặt ở ổ đĩa và những gì làm cho chúng trở nên bị phân mảnh; Và tìm hiểu cách thức các file bị phân mảnh ảnh hưởng đến hiệu suất, và những gì có thể thực hiện được để tránh nó.


Đọc tiếp ...

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2016

Khắc phục lỗi Font chữ in đậm và in nghiêng trong windows

 Bạn đang đối mặt với các lỗi khó chịu trong windows, và vấn đề đang gặp phải là các văn 
bản trong tất cả các cửa sổ, menu, biểu tượng đột nhiên bắt đầu hiển thị font chữ đậm và
nghiêngNó làm cho bạn cảm thấy khó chịu trong việc sử dụng hệ điều hành windows để 
làm việc? Vậy khắc phục nó như thế nào đây?


Như bạn có thể thấy, hầu như tất cả mọi thứ trên màn hình đang hiển thị in đậm và nghiêng. Khi bạn mở một chương trình như trình duyệt web, Microsoft Word, vv, chương trình còn hiển thị văn bản với các phông chữ đậm và nghiêng và bạn đã cố gắng áp dụng theme mặc định, thiết lập cài đặt lại, chạy lệnh sfc / scannow  và nhiều thứ khác, nhưng tất cả là vô ích. Tuy nhiên vấn đề này sẽ được khắc phục với một số giải pháp rất dễ dàng được cung cấp trong bài viết này! Để tiện cho bạn, trong bài viết này blog thủ thuật sẽ chia sẻ tất cả các giải pháp có thể khắc phục vấn đề này.
Khắc phục lỗi Font chữ in đậm và nghiêng trong windows

Giải pháp 1: Áp dụng giao diện mặc định từ Desktop

Nhấn chuột phải vào Desktop > Kích chọn Personalize (đối với windows XP sẽ có tùy chọn Properties thay vì Personalize)
Tiếp theo bạn hãy áp dụng giao diện mặc định của windows
Quá trình này sẽ khôi phục lại tất cả các phông chữ, màu sắc thiết lập, tùy chỉnh trong giao diện Windows như thay đổi kiểu font, cỡ chữ, màu chữ, vv…
Nếu không giải quyết được vấn đề font chữ, hãy thử một trong những giải pháp tiếp theo

Giải pháp 2: Đặt lại Font chữ mặc định

Bạn hãy thiết lập lại font chữ mặc định của windows có thể vấn đề sẽ được giải quyết
Đầu tiên hãy mở thư mục Font của windows bằng cách > Nhấn tổ hợp phím Windows + R sau đó gõ“fonts” trong ô Open và Enter, hoặc bạn có thể vào thư mục “Fonts” bằng Control Panel
Tại cửa sổ Fonts > Kích chọn “Font Settings”
khac phuc font chu in dam va nghieng.png
Cửa sổ Font Settings hiện ra > Kích chọn “Restore default font settings” 
khac phuc font chu in dam va nghieng-1.png
Sau đó hãy khởi động lại hệ thống của bạn và vấn đề đã được giải quyết
Nếu giải pháp trên chưa được hãy tiếp tục thực hiện các giải pháp tiếp theo

Giải pháp 3: Đặt Registry về mặc định

Đôi khi một vài thiết lập liên quan đến font chữ trong Windows Registry bị lỗi có thể gây ra vấn đề font chữ đậm, nghiêng kỳ lạ này. Bạn có thể khôi phục lại các thiết lập Registry bằng cách sử dụng các bước sau đây:
Đầu tiên hãy tải tập tin ZIP về máy tính và giải nén
Tải về tại đây hoặc tại đây
Sau khi giải nén xong bạn sẽ thấy một file REG > Kích đúp để chạy file này > Nhấn Yes là được
Khởi động lại hệ thống vấn đề sẽ được khắc phục
Nếu chưa được hãy áp dụng giải pháp tiếp theo

Giải pháp 4: Cài đặt lại Font thiếu trong windows



























































Nếu trong số các trên không khắc phục được lỗi thì giải pháp cuối cùng này chắc chắn sẽ giúp ích cho bạn. Trong giải pháp cuối cùng này, chúng ta sẽ cài đặt lại một vài phông chữ phổ biến nhất và được sử dụng rộng rãi như Arial, Time New Roman, Courier New, Tahoma, Verdana, Trebuchet MS, MS Sans Serif và Segoe UI trong Windows.
Trên thực tế đôi khi một phông chữ bị xóa vô tình bởi một chương trình hay phần mềm hoặc một bản cập nhật nào đó. Khi đó Windows không tìm thấy font chữ đó, nó bắt đầu hiển thị các văn bản bằng cách sử dụng một biến thể của font hoặc font chữ mặc định trong Registry.
Ví dụ: Windows Vista và Windows 7 sử dụng font “Segoe UI”, nếu font “Segoe UI Regular” bị xóa, Windows sẽ hiển thị các văn bản bằng cách sử dụng font “Segoe UI Bold Italic” là một font chữ riêng biệt trong Windows. Đó chính là lý do gây nên vấn đề này vì thế hãy thử cài đặt lại phông chữ phổ biến trong Windows nó sẽ giúp windows hiển thị bình thường.
Đầu tiên hãy tải tập tin ZIP về máy tính
Tải về tại đây hoặc tại đây
Sau đó bạn hãy giải nén tập tin này và bạn sẽ thấy một số File .ttf
Chọn tất cả các Font > Kích chuột phải chọn “Install
Lúc này windows sẽ xuất hiện hộp thoại hỏi bạn “The font is already installed. Do you want to replace it?” (Cácphông chữ đã được cài đặt. Bạn có muốn thay thế nó?) > Nhấn Yes để cài đặt và thay thế
Sau đó hãy khởi động lại hệ thống bạn sẽ thấy vấn đề được giải quyết êm đẹp!
Lưu ý: Đối với giải pháp này bạn có thể copy trực tiếp các file .ttf và bỏ vào thư mục Font của windows (để mở thư mục windows Font bạn áp dụng cách mở thư mục font theo giải pháp số 2)
Vậy là mình đã trình bày các giải pháp để bạn có thể khắc phục vấn đề font chữ một cách êm đẹp rồi đấy!
Nguyễn Hữu Thuần
(https://it60s.org/khac-phuc-loi-font-chu-in-dam-va-nghieng-trong-windows.html)
Đọc tiếp ...

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

Kiểm tra kết nối mạng LAN – WAN

Ngoài việc xây dựng một hệ thống mạng hoạt động ổn định và an toàn, thì việc thường xuyên kiểm tra và phát hiện lỗi trong mạng công ty hay nhà riêng cũng đều rất quan trọng.

Một khi có trục trặc trong hệ thống mạng, quá trình phát hiện lỗi kết nối là công đoạn tiêu tốn nhiều thời gian nhất đối với một quản trị mạng chuyên nghiệm lẫn người mới làm quen với hệ thống. Sau đây là một số lệnh và công việc cơ bản tối thiểu mà bạn cần thực hiện khi cần kiểm tra kết nối cho hệ thống mạng LAN WAN của mình.
IPConfig – xem địa chỉ IP máy tính
Lệnh này được dùng trong chế độ dòng lệnh, nên bạn có thể gõ thẳng nó vào mục Start – Run. Các thông tin nhận được sẽ tùy theo các tham số mà bạn dùng kèm. Với lệnh ipconfig /all, bạn sẽ nhận được các thông tin chi tiết về cấu hình của tất cả card mạng có trong máy tính của mình, bao gồm:địa chỉ IP, Net mask (mặt nạ mạng), Default Gateway (cổng gửi dữ liệu mặc định khi cần gửi thông tin đi ra khỏi mạng LAN) và DNS server(địa chỉ máy chủ phân giải tên miền). Nếu thông tin kết quả thu được ở bước này có vấn đề gì không đúng, bạn phải tiến hành sửa chữa ngay, trước khi thực hiện bất kỳ bước thử nghiệm hay kiểm tra kế tiếp nào khác.
Một số thông số khác của lệnh ipconfig thường được dùng để kiểm tra kết nối từ máy tính vào hệ thống mạng là /flushdns (làm sạch bộ nhớ đệm bộ phân giải tên miền), /registerdns (đăng ký lại tên miền),/displaydns (hiển thị bộ đệm tên miền đã phân giải được trước đó,/release (hủy bỏ địa chỉ IP mà card mạng đã nhận được trước đó), /renew(yêu cầu máy chủ DHCP cấp lại một địa chỉ IP mới)
Ping – kiểm tra sự phản hồi của một điểm mạng khác
Mạng là sự kết nối và sẻ chia, vì vậy trước khi có thể chia sẻ cho nhau nguồn tài nguyên nào đó, bạn có thể dùng lệnh Ping để kiểm tra xem việc liên lạc từ máy tính của mình đến điểm mạng đó có thông suốt hay không. Hai thông báo thường gặp nhất khi bạn sử dụng lệnh Ping làRequest timed out (không có tín hiệu phản hồi), và Replay from …..(mất bao nhiêu mi-li giây để nhận được phản hồi). Một cách dùng khác của lệnh ping là thực hiện lệnh này với địa chỉ IP Loopback (mang giá trị 127.0.0.1) chỉ để kiểm tra xem giao thức TCP/IP có hoạt động tốt trên hệ thống máy tính hiện tại hay không. Người ta cũng thường ping địa chỉ IP Default Gateway để biết chắc rằng máy tính đang kết nối tốt đến Router ADSL.
Ngoài giá trị thời gian phản hồi, thì một giá trị khác cũng khá quan trọng trong phần kết quả lệnh ping, đó là giá trị Time to live (TTL). Các hệ điều hành gán giá trị khởi đầu khi gửi gói tin ICMP trong lệnh ping rất khác nhau, ví dụ như Windows gán TTL = 128, Linux gán giá trị 64, còn Solaris thì dùng đến giá trị 256. Cứ mỗi lần gói tin ICMP đi qua một điểm mạng, giá trị TTL sẽ bị trừ đi 1. Và đến khi TTL=0 mà chưa về đến đích thì gói tin đó sẽ bị hủy, để tránh việc các gói tin bị gửi đi lòng vòng trong hệ thống mạng.
Bạn có thể ping một địa chỉ IP, một tên máy tính (Computer name) hay một tên miền (Domain name). Có rất nhiều tham số khác nhau đi kèm với lệnh ping, và bạn có thể dùng lệnh ping /? để hiển thị chúng ra cùng với phần giải thích cách dùng từng tham số. Một lệnh ping không có tham số thì chỉ thực hiện việc gửi gói tin đi bốn lần, nhưng khi bạn dùng lệnh ping –t thì thao tác ping sẽ được thực hiện liên tục cho đến khi bạn phát lệnh dừng bằng tổ hợp phím Ctrl-C.
Tracert – dò từng bước đi của gói tin
Được phát triển từ lệnh ping, tracert là một tiện ích hiển thị đường đi của gói tin từ khi nó được gửi đi cho đến từng điểm mạng trên Internet. Ngoài ra, nó cũng cho biết thời gian tiêu tốn để gói tin đi từ điểm mạng này đến điểm mạng khác. Cách làm này giúp bạn biết được đâu là điểm nghẽn trên đường đi của một gói tin để dễ dàng giải quyết, hoặc khiếu nại với nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, do có một số điểm mạng vì lý do bảo mật sẽ không chấp nhận phản hồi, khi đó phần kết quả sẽ là các dấu * kèm với lỗi Request timed out.
NSLookup – thử nghiệm việc phân giải tên miền
Trường hợp bạn có thể ping hay tracert đến địa chỉ IP của một trang web, nhưng không tài nào truy cập được vào nội dung trang web bằng tên miền của nó, mà chỉ nhận được thông báo Internet Explorer cannot display the webpage, thì bạn cần phải sử dụng lệnh nslookup để kiểm tra xem việc phân giải tên miền trên máy tính có vấn đề gì hay không.
Trong cửa số lệnh bạn gõ lệnh nslookup rồi gõ vào đó tên miền muốn kiểm tra. Nếu phần cấu hình máy chủ DNS trên máy tính hoạt động tốt, bạn phải nhận được kết quả là một hoặc vài địa chỉ IP tương ứng với tên miền ấy. Trường hợp ngược lại, khi bạn nhập vào một tên miền nào đó, ví dụ như www.tenmientimkiem.combạn sẽ nhận được thông báo lỗiUnKnown can't find www.tenmientimkiem.com: Query refused.
Khi có lỗi xảy ra khi dùng lệnh nslookup để kiểm tra, bạn phải kiểm tra theo một trong các hướng sau:
Bạn gõ sai tên miền: hãy kiểm tra lại tên miền mà bạn vừa nhập vào để chắc chắn rằng bạn đã gõ đúng từng ký tự một, có thể bạn bị mắc một lỗi chính tả như gõ nhầm tenmientimkiem thành tenmientmkiem, hay bạn nhớ sai phần đuôi .org sang .com chẳng hạn.
Bạn dùng địa chỉ IP của máy chủ phân giải tên miền bị giới hạn: một số máy chủ phân giải tên miền cho phép bất cứ ai cũng được quyền sử dụng, nhưng một số khác thì dành riêng cho khách hàng hay nhân viên trong tổ chức, cơ quan của mình mà thôi. Nếu bạn sử dụng nhầm một máy chủ phân giải tên miền như thế, thì dù thực sự chúng tồn tại trên Internet, bạn vẫn nhận được thông báo Default server : UnKnown hayServer : UnKnown, khi bạn dùng lệnh nslookup để kiểm tra. Cách tốt nhất là bạn dùng đúng địa chỉ IP của máy chủ phân giải tên miền mà nhà cung cấp dịch vụ đã ghi ra cho bạn trong biên bản lắp đặt ADSL, đính kèm hợp đồng, hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng.
Để thay đổi phần địa chỉ IP của máy chủ phân giải tên miền mặc định của hệ thống sang một địa chỉ IP khác để thử nghiệm, bạn dùng từ khóaserver bên trong lệnh nslookup.
Một trong các máy chủ DNS của nhà cung cấp dịch vụ bị lỗi: lệnhnslookup vẫn có thể giúp bạn biết được máy chủ phân giải tên miền nào của nhà cung cấp dịch vụ đang bị “chết”. Thế nhưng tốt nhất là bạn cấu hình để hệ thống xử lý tự động vấn đề này, trong phần cấu hình địa chỉ IP, bạn hãy nhập cả hai địa chỉ cho phần phân giải tên miền là Preferred DNS Server và Alternate DNS Server. Ví dụ như với người dùng mạng ADSL của nhà cung cấp dịch VDC trong thời điểm hiện tại, thì cần nhập hai địa chỉ là 203.162.4.190 và 203.162.4.191.
WhatismyIP – tìm địa chỉ IP kết nối WAN của máy tính
Các máy tính trong mạng LAN đều sử dụng một địa chỉ mạng riêng (private), khi đi ra ngoài Internet đều phải sử dụng một địa chỉ mạng WAN bên ngoài (public). Địa chỉ này do nhà cung cấp dịch vụ Internet cấp xuống và là một địa chỉ của Modem Router ADSL. Muốn biết địa chỉ WAN hiện tại mà mạng LAN hay máy tính của bạn đang sử dụng, mà không cần truy cập vào Router ADSL, bạn dùng trình duyệt web rồi gõ vào địa chỉ http://whatismyip.com. Con số sau dòng chữ Your IP Address Is chính là địa chỉ IP WAN hiện tại. Mỗi khi bạn khởi động lại Router ADSL, địa chỉ này sẽ thay đổi sang một địa chỉ mới.
Netstat – trạng thái các cổng giao tiếp mạng
Mỗi chương trình khi giao tiếp với bên ngoài luôn mở một hoặc nhiều cổng (port). Để biết hiện nay có các chương trình nào đang gửi nhận thông tin vào hay ra khỏi hệ thống, bạn có thể dùng lệnh netstat. Có hai tham số của lệnh netstat là –a và –b. Tham số -a hiển thị tất cả các cổng đang mở và kết nối của máy tính hiện tại. Tham số -b cho biết chính xác tên chương trình nào đang mở các cổng đó.
Bạn có thể dùng tiện ích netstat để quan sát xem ứng dụng của mình, như máy chủ web, FTP... đã mở đúng cổng giao tiếp hay chưa, hoặc bạn cũng có thể dùng chương trình này để phát hiện xem có virus hay trojan này đang bí mật mở “cửa sau” (backdoor) để hacker quản lý hay truy cập từ xa vào hệ thống hay không.
THANH DUY – TUYẾT PHONG
Đọc tiếp ...